VNPT | ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
You are here >   Intro > Truyen_thong_lich_su > View
Register   |  Login
 
<
>
ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Cập nhật ngày: 22/03/2011 Facebook Youtube Youtube

Quá trình đổi mới doanh nghiệp theo mô hình tập đoàn kinh tế trong giai đoạn 2000 – 2010, tuy vẫn còn tồn tại một số hạn chế song với những kết quả to lớn, VNPT được Đảng và Nhà nước đánh giá là một trong những doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực BCVT, CNTT tại Việt Nam; đóng góp hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

I.                   Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và đổi mới doanh nghiệp theo mô hình tập đoàn kinh tế

 1.      Chủ trương đổi mới doanh nghiệp của Đảng và những vấn đề đặt ra đối với VNPT

Từ năm 1995, VNPT được tổ chức, sắp xếp và hoạt động theo mô hình tổng công ty 91. Hoạt động theo mô hình này, VNPT đã tập trung được sức mạnh và quyền tự chủ hoạt động trong SXKD, vượt qua nhiều thách thức và khó khăn để bứt phá ra khỏi cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, có một giai đoạn tăng tốc ngoạn mục. Mô hình Tổng công ty 91 đã hoàn thành tốt sứ mệnh lịch sử của mình trong những năm cuối của thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, thực hiện chiến lược Hội nhập và Phát triển.

Tuy nhiên, bước vào thời kỳ xã hội thông tin với xu thế hội tụ công nghệ, hội nhập và cạnh tranh ngày càng sâu rộng, việc tiếp tục duy trì mô hình Tổng công ty 91 và chế độ kế hoạch hóa trong toàn bộ hoạt động SXKD đang ngày càng tỏ ra không phù hợp, việc quản lý tập trung theo mô hình Tổng công ty 91 của VNPT gặp nhiều khó khăn. Bởi vậy, việc chuyển đổi mô hình thành Tập đoàn là một xu thế tất yếu để tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của mô hình Tổng công ty trong bối cảnh mới, xây dựng một tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường. Tại Hội nghị lần thứ 3 BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX (tháng 8/2001) đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm (2001-2005), trong đó nhấn mạnh việc chuyển đổi mô hình quản lý, sớm hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trong các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước  trong đó có BCVT – CNTT.

Với chủ trương nhằm xây dựng VNPT trở thành doanh nghiệp hàng đầu có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại, chuyên môn hóa cao, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trong đó BCVT và CNTT làm chủ đạo, VNPT từng bước chuyển đổi sang mô hình tập đoàn kinh tế, việc tổ chức quản lý giữa VNPT với các công ty, đơn vị thành viên được thực hiện theo mô hình công ty mẹ-công ty con, việc này sẽ giúp VNPT khắc phục những bất cập và tồn tại của mô hình Tổng công ty, tạo cơ hội để VNPT tăng cường tích tụ vốn để đẩy mạnh đầu tư; hình thành cơ chế phân cấp mạnh cho các công ty con nhằm tạo sự chủ động, sáng tạo, từ đó phát huy nội lực của mỗi đơn vị; thực hiện đa dạng hóa các loại hình sở hữu trong đó sở hữu nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong các đơn vị chủ lực của tập đoàn. Chuyển sang mô hình tập đoàn kinh tế sẽ giúp VNPT và các công ty thành viên gắn kết chặt chẽ hoạt động SXKD với nghiên cứu KHCN, đào tạo, phát triển nhân lực. Đây là những cơ sở và động lực để VNPT tăng cường tiềm lực, nâng cao hiệu quả cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo dựng những lợi thế thúc đẩy sự phát triển.

Những khó khăn của quá trình chuyển đổi:

-          Các hành lang pháp lý (Luật Doanh nghiệp, Luật BCVT…) chưa có quy định cụ thể đối với tập đoàn kinh tế.

-          Nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho VNPT hết sức nặng nề, không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực BCVT-CNTT mà xa hơn nữa là đóng góp tích cực để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

-          Xây dựng  mô hình tập đoàn không chỉ diễn ra ở cấp Tổng công ty mà thực hiện ở tất cả các đơn vị thành viên, từ tái cơ cấu lại mô hình tổ chức, chuyển đổi quản lý SXKD đến chuyển đổi nhận thức trong đội ngũ CBCNV đòi hỏi phải có lộ trình phù hợp, khoa học.

Những thuận lợi của quá trình chuyển đổi:

-          VNPT luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, các Bộ ngành liên quan.

-          Mô hình tổ chức của VNPT được định hình và ổn định từ trước đến giai đoạn này vẫn giữ được sự thống nhất, gắn kết cao và chặt chẽ trên phạm vi toàn quốc.

-          Tiềm năng tài chính lớn, có uy tín về phát triển mạng lưới, dịch vụ, hoạt động phục vụ SXKD trong nước cũng như quốc tế.

Việc xây dựng tập đoàn kinh tế không có nghĩa là phủ định mô hình Tổng công ty 91 mà phải làm cho những thế mạnh, ưu điểm của mô hình này tiếp tục được phát huy tốt hơn nữa trong bối cảnh mới đồng thời khắc phục những tồn tại hạn chế của mô hình cũ. Bởi vậy, chuyển đổi phải theo một lộ trình khoa học, vừa nghiên cứu vừa thực hiện từng bước, vừa làm vừa đúc rút kinh nghiệm để hoàn thiện. Trước hết phải tiếp tục hoàn thiện mô hình Tổng công ty, đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, tách Bưu chính và Viễn thông, từng bước đa dạng hóa hình thức sở hữu, cổ phần hóa doanh nghiệp. Trong quá trình đó, yếu tố con người  giữ vai trò hết sức quan trọng.

 2.      Tiếp tục hoàn thiện mô hình Tổng công ty 91, từng bước xây dựng Tập đoàn kinh tế.

Quá trình hoàn thiện mô hình tổ chức, từng bước chuyển đổi VNPT sang hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế thực chất là sắp xếp và cơ cấu lại hoạt động SXKD. Theo đó VNPT từng bước tách bưu chính ra hạch toán kinh doanh độc lập; sáp nhập, giải thể, phân bố lại hệ thống tổ chức; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của các đơn vị một cách phù hợp; tạo cơ chế để các đơn vị trực thuộc có thể chủ động, nhanh chóng điều chỉnh bộ máy thích ứng với quá trình đổi mới công nghệ và phát triển dịch vụ; thực hiện cổ phần hóa và thành lập các công ty cổ phần; từng bước hình thành mô hình công ty mẹ-công ty con. Sự chuyển đổi này cũng phân định rõ mối quan hệ giữa hoạt động SXKD và hoạt động công ích; phân định rõ vốn, tài sản, quan hệ giữa các đơn vị; phân định quyền lợi, nghĩa vụ của VNPT và các đơn vị thành viên.

 * Xây dựng mô hình tập đoàn kinh tế

Ngày 23/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 58/2005/QĐ-TTg, phê duyệt đề án thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế đầu tiên - Tập đoàn BCVT Việt Nam, trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty BCVT Việt Nam và các đơn vị thành viên.

Ngày 09/01/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn BCVT VN (VNPT). Theo quyết định này Tập đoàn hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-Công ty con với bộ máy quản lý gồm: Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và Bộ máy giúp việc là Văn phòng và bộ phận tham mưu.

Các bộ phận tham mưu gồm: Ban Kiểm soát; Ban Kế toán TKTC; Ban Kế hoạch; Ban Đầu tư-Phát triển; Ban Viễn thông, Ban Hợp tác quốc tế; Ban Tiếp thị bán hàng; Ban Tổ chức cán bộ-lao động; Ban khoa học Công nghệ Công nghiệp; Ban Thanh tra-Quân sự-Bảo vệ; Ban Thi đua - Truyền thống; Ban Đào tạo - Phát triển nguồn nhân lực; Ban Kiểm toán nội bộ (tháng 7/2010 sáp nhập với Ban Kế toán TKTC); Ban Đầu tư quản lý vốn ngoài doanh nghiệp; Ban QLDA các công trình viễn thông; Ban QLDA cáp quang biển; Ban QLDA  các công trình kiến trúc; Ban QLDA Trung tâm giao dịch và điều hành viễn thông quốc gia; Ban QLDA Trung tâm tính cước và chăm sóc khách hàng; Ban QLDA Bệnh viện Bưu điện; Văn phòng Tập đoàn; Văn phòng đại diện tại TP HCM, Khối Đảng-Đoàn thể.

Ngày 26/3/2006, VNPT chính thức ra mắt và đi vào hoạt động. Ngày 17/11/2006, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của VNPT. Đây là sự ghi nhận của Đảng và Chính phủ và toàn xã hội đối với sự trưởng thành và lớn mạnh của VNPT, đồng thời là điều kiện thuận lợi để VNPT tiếp tục đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý thích ứng với môi trường mới.

Ngày 24/10/2007, Thủ tướng ban hành quyết định số 164/2007/QĐ-TTg về tổ chức mạng kinh doanh viễn thông nội hạt của VNPT, theo đó việc tổ chức lại viễn thông nội hạt sẽ tách ra từ các bưu điện tỉnh/thành trước đây thành viễn thông tỉnh/thành phố. Từ ngày 01/01/2008, VNPT hoạt động theo mô hình mới (chia tách bưu chính, viễn thông). Ngày 19/3/2009, HĐQT ban hành quyết định số 64/QĐ TCCB-L Đ/HĐQT thay đổi tên giao dịch của viễn thông tỉnh/thành phố trên toàn quốc thành VNPT (tên tỉnh/thành phố).

Ngày 24/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 955/QĐ-TTg chuyển công ty mẹ - VNPT thành Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Theo quyết định này, sau khi chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên, VNPT kế thừa các quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý những vấn đề tồn tại và phát sinh của Tập đoàn trước khi chuyển đổi.

Cơ sở vật chất hiện đại, mạng lưới rộng khắp; đội ngũ CBCNV có trình độ, đi lên từ truyền thống của ngành Bưu điện, được rèn luyện trong môi trường cạnh tranh, bản lĩnh vững vàng; được thừa hưởng truyền thống quý báu của Ngành, kế thừa thương hiệu “Bưu điện” đã trở thành niềm tin, sự gắn bó của người dân Việt Nam; có sức mạnh tài chính vững mạnh được tích tụ từ sự tận tụy, vượt khó trong quá trình hội nhập, cạnh tranh là những yếu tố quan trọng để VNPT tiếp tục vươn lên phát triển mạnh mẽ, bền vững.

 * Chia tách bưu chính – viễn thông

Trước khi chia tách Bưu chính – Viễn thông, mặc dù mạng lưới bưu cục phát triển rộng khắp cả nước, thiết bị, phương tiện khai thác vận chuyển sẵn có là những lợi thế cạnh tranh của các đơn vị bưu chính, song lại bộc lộ nhiều bất cập hạn chế: do số lượng CBCNV đông trong đó một bộ phận CBCNV thiếu năng động, sáng tạo dẫn tới năng suất lao động thấp, doanh thu không cao. Nguyên nhân của tình trạng đó một phần do yếu tố khách quan như nhu cầu sử dụng tăng nhanh, khách hàng đông, dịch vụ đa dạng, mạng lưới bưu chính rộng, nhiều tỉnh có địa hình hiểm trở trong khi điều kiện giao thông khó khăn, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc ứng dụng CNTT trong quản lý khai thác tuy được triển khai nhưng chưa đồng bộ nên hiệu quả còn thấp…

Để hai khối Bưu chính và Viễn thông độc lập về tổ chức SXKD và hạch toán tách bạch giữa nhiệm vụ công ích với SXKD, xóa bỏ cơ chế bù chéo từ Viễn thông sang Bưu chính, nâng cao năng lực và hiệu quả cạnh tranh của Viễn thông tạo điều kiện để Viễn thông bứt phá, thích ứng với lộ trình mở cửa hội nhập, việc tách riêng hai khối là tất yếu và có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế. Tuy nhiên việc thực hiện lại không đơn giản. Ngoài những khó khăn về tổ chức, quản lý, kỹ thuật thì về mặt xã hội, lĩnh vực bưu chính với sự tham gia của hàng vạn CBCNV gắn bó hàng chục năm với Ngành, trải qua những thời kỳ dài khó khăn gian khổ của chiến tranh và trong cơ chế bao cấp, việc chia tách sẽ dẫn đến những khó khăn đòi hỏi phải có sự quyết tâm cao, tính toán khoa học, lộ trình phù hợp nhằm đảm bảo mục tiêu, đặc biệt chú trọng đến sự ổn định về tư tưởng và đời sống CBCNV.

Trước tiên, vào năm 2000, VNPT thực hiện thí điểm chia tách ở các bưu điện huyện, thị, mở đầu cho việc hình thành các Tổng Công ty hoạt động chuyên ngành Bưu chính và Viễn thông để phù hợp với công nghệ mới và tạo sự năng động trong kinh doanh trong cả 2 lĩnh vực. Ngày 21/3/2001, việc thí điểm chia tách được thực hiện ở địa bàn một số tỉnh/thành phố. Thành công từ các đơn vị thí điểm là cơ sở để VNPT triển khai đồng loạt ở tất cả các tỉnh/thành phố trên toàn quốc.

Ngày 04/6/2002, HĐQT ban hành quyết định số 226/QĐ-TCCB/HĐQT về việc phê duyệt Phương án đổi mới quản lý khai thác, kinh doanh BCVT trên địa bàn tỉnh. Theo đó, bưu điện các tỉnh/thành phố tách thành 2 đơn vị: Bưu điện tỉnh/thành phố trực thuộc Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost) có chức năng quản lý mạng lưới và kinh doanh các dịch vụ bưu chính, PHBC và thực hiện nhiệm vụ công ích. Đơn vị còn lại là Công ty Viễn thông tỉnh/thành phố trực thuộc công ty mẹ - VNPT, có chức năng quản lý mạng viễn thông nội hạt và kinh doanh các dịch vụ viễn thông, CNTT. Các bưu cục, đại lý, điểm Bưu điện-Văn hóa xã do các Bưu điện thành phố, thị xã đặt tại trung tâm tỉnh quản lý trước đây nay sẽ do các phòng chức năng của bưu điện tỉnh/thành phố mới thành lập trực tiếp điều hành.

Ngày 01/6/2007, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 674/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thành lập Tổng công ty BCVN – VNPost. Đây là Tổng công ty nhà nước do Nhà nước quyết định thành lập và giao vốn thông qua VNPT; thực hiện chế độ hạch toán và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước, theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của VNPT; có trách nhiệm kế thừa các quyền, nghĩa vụ pháp lý và lợi ích hợp pháp về hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính của VNPT. Theo quyết định này, đ/c Đỗ Ngọc Bình, Ủy viên HĐQT VNPT, trưởng Ban BC-PHBC được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc, đ/c Lê thị Kim Hà, Nguyễn Quốc Vinh làm Phó tổng giám đốc VNPost, VNPost chính thức hoạt động theo mô hình mới từ 01/01/2008.

Ngay sau khi thành lập VNPost và các Bưu điện tỉnh/thành phố nhanh chóng kiện toàn bộ máy tổ chức, sắp xếp một số đơn vị để phù hợp với mô hình mới và ổn định SXKD. Ba trung tâm Bưu chính liên tỉnh và Quốc tế khu vực I, II, III lần lượt được sáp nhập vào Bưu điện TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Từ ngày 01-15/1/2008, một loạt các Bưu điện tỉnh được thành lập mới.

Hai lĩnh vực bưu chính và viễn thông tuy tách ra hoạt động độc lập, nhưng sự hợp tác với nhau là rất cần thiết nhằm tận dụng tối đa thế mạnh mạng lưới, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của cả bưu chính và viễn thông, từ đó thúc đẩy sự phát triển chung. Hoạt động hợp tác giữa các đơn vị kinh doanh dịch vụ viễn thông, CNTT với các đơn vị của VNPost được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh tế, đại lý, trong đó bên  giao đại lý là các đơn vị viễn thông, bên đại lý là các đơn vị của VNPost. VNPost trở thành tổng đại lý cung ứng, phân phối, bán lẻ các dịch vụ viễn thông, CNTT.

Với những biện pháp tích cực, chủ động và hiệu quả, các đơn vị kinh doanh bưu chính của VNPost không những nhanh chóng ổn định tổ chức mà còn có tốc độ phát triển ổn định, Bưu điện các tỉnh, thành thực hiện hạch toán riêng từng lĩnh vực dịch vụ, đảm bảo hoạt động kinh doanh, duy trì mức tăng trưởng cao, hầu hết có tăng trưởng trên 20%/năm, dịch vụ BC-PHBC tăng trên 10%, doanh thu từ dịch vụ bưu chính-PHBC đạt trên 25% tổng doanh thu, có nơi đạt trên 40% như Bưu điện Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… Mức sống của CBCNV được cải thiện rõ rệt so với trước khi thực hiện chia tách. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng kết quả bước đầu cho thấy đây là việc làm cần thiết, bước đi và cách làm là phù hợp, hiệu quả. Trong bối cảnh mới, nhiều khả năng tiềm tàng của lĩnh vực bưu chính đã được phát huy cao độ. Đây là cơ sở vững chắc để củng cố lòng tin bưu chính sẽ đứng vững trên đôi chân của mình, hướng đến quy mô phát triển lớn hơn với chất lượng phục vụ tốt hơn, tính chuyên nghiệp cao hơn, góp phần quan trọng vào thành công của Tập đoàn.

 * Thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp

Việc cổ phần hóa các công ty, đơn vị thành viên được VNPT sớm thực hiện từ năm 1997, mở đầu là cổ phần hóa Nhà máy Cáp Sacom thành Công ty cổ phần Cáp Sacom. Tuy nhiên tiến trình cổ phần hóa của VNPT gặp không ít khó khăn do đặc thù là một Tổng công ty lớn, các đơn vị thành viên có mối quan hệ đan xen trong các hoạt động hợp tác kinh doanh, góp vốn với nhau nên việc đánh giá tài sản trước khi cổ phần hóa hết sức phức tạp. Mặt khác, BCVT và CNTT là ngành kỹ thuật đặc thù, ngoài chức năng kinh tế còn có trách nhiệm xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại nên việc lựa chọn lĩnh vực, đơn vị nào để thực hiện cổ phần hóa, trình tự cổ phần hóa thế nào để không gián đoạn các hoạt động SXKD và phục vụ cũng cần được tiến hành nghiêm túc, khoa học. Lộ trình cổ phần hóa các doanh nghiệp của VNPT được thực hiện chặt chẽ, trong đó ưu tiên các đơn vị thuộc khối công nghiệp, thương mại, xây lắp, thiết kế. Năm 2000, VNPT hoàn thành thủ tục cổ phần hóa 3 đơn vị: Trung tâm Kỹ thuật điện nhẹ viễn thông (thuộc Công ty Công trình Bưu điện), Công ty Xây dựng Bưu điện Hà Nội và Xí nghiệp KHSX thiết bị thông tin II. Tính đến hết năm 2009, đã thực hiện liên doanh cổ phần hóa 30 đơn vị ngoài ra còn một số công ty cổ phần thuộc VNPT các tỉnh/thành. Đã có một số đơn vị đưa cổ phiếu lên sàn giao dịch chứng khoán như Sacom, Công ty Cổ phần thiết bị Bưu điện…. VNPT tiếp tục báo cáo và trình Thủ tướng cho phép cổ phần hóa một số đơn vị như Công ty TNHH một thành viên Sản xuất cáp quang Focal, Công ty Tài chính Bưu điện, Công ty In tem, Công ty Điện toán và Truyền số liệu, Công ty Phần mềm và Truyền thông (VASC)…. , đồng thời xây dựng lộ trình cổ phần hóa toàn bộ phần viễn thông của Tập đoàn. Chuẩn bị cho công tác cổ phần hóa tại các đơn vị này, VNPT từng bước điều chuyển phần đường trục, tách báo điện tử Vietnamnet và VNmedia ra khỏi VASC và VDC. Bên cạnh đó VNPT cũng phê duyệt đề án thành lập mới các công ty cổ phần: bất động sản BCVT  (VNPT Land), Đầu tư phát triển các dịch vụ viễn thông và kinh doanh nhà, Khai thác tòa nhà VNPT, Tin học Viễn thông Hàng không, Truyền thông quảng cáo đa phương tiện SmartMedia…

Sau khi cổ phần hóa, các công ty thực hiện mua bán, trao đổi cổ phiếu với các công ty, đơn vị trong và ngoài VNPT tạo nên mối liên kết chặt chẽ, góp phần tăng cường tiềm lực của các thành viên, tạo điều kiện để mở rộng hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài. Khi chuyển sang mô hình công ty cổ phần và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các đơn vị được chủ động trong mọi hoạt động: sử dụng vốn, tuyển dụng và bố trí đội ngũ lao động, mở rộng và đa dạng hóa các hình thức kinh doanh… nhờ đó phát huy được mọi nguồn lực, đặc biệt tạo niềm tin và động lực sản xuất trong đội ngũ CBCNV, từ đó nâng cao tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức tự giác của người lao động, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.

 3.      Đổi mới cơ chế quản lý, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển

 * Đổi mới công tác kế hoạch

Trong giai đoạn hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91, Ban lãnh đạo VNPT gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý hơn 100 đơn vị thành viên, công ty. Công tác kế hoạch nhiều khi bị động, áp đặt, không xuất phát từ đặc điểm, thế mạnh của từng đơn vị, ít nhiều hạn chế việc phát huy tính chủ động tích cực của các đơn vị thành viên. Trong khi đó, xu thế hội nhập quốc tế đang là lựa chọn tất yếu của tất cả các ngành kinh tế kể cả BCVT-CNTT, đòi hỏi phải có sự đổi mới, cải tiến mạnh mẽ, toàn diện, trong đó đổi mới công tác kế hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công tác kế hoạch đối với chiến lược phát triển chung, Ban lãnh đạo VNPT luôn yêu cầu các ban tham mưu xây dựng kế hoạch dài và ngắn hạn theo định hướng và cấu hình phát triển mạng lưới, dịch vụ, trên cơ sở đó lập kế hoạch cụ thể từng năm sát với nhu cầu thực tiễn.

Nhiều cuộc tổng điều tra nhu cầu thị trường về các dịch vụ BCVT, tin học cũng như điều tra năng lực mạng lưới được tổ chức trên quy mô toàn quốc. Những kết quả thu thập được là cơ sở để Ban Lãnh đạo VNPT xác định nhu cầu tiêu dùng dịch vụ và dung lượng thị trường, từ đó phân loại các nhóm khách hàng, thói quen sử dụng và các yếu tố tác động đến nhu cầu dịch vụ. Đồng thời công tác nghiên cứu tìm hiểu đối thủ cạnh tranh về dịch vụ và chính sách được tiến hành thường xuyên, từ đó bộ phận giúp việc kịp thời tham mưu cho lãnh đạo có cơ sở đề ra kế hoạch SXKD chính xác hiệu quả và có đối sách thích hợp để thúc đẩy sự phát triển của VNPT phù hợp với thị trường. Do đó, các chỉ tiêu kế hoạch đề ra sát với thực tế và có hiệu quả cao hơn. Việc giao kế hoạch cho các đơn vị luôn được tiến hành dân chủ, công khai, dựa trên cơ sở quy chế nội bộ gắn liền với tình hình thực tế của từng đơn vị. Bởi vậy các đơn vị tiếp nhận kế hoạch một cách chủ động, tích cực thực hiện, đạt và vượt các yêu cầu, chỉ tiêu đề ra.

Với quyết tâm khẳng định là doanh nghiệp số 1 trong lĩnh vực BCVT-CNTT, VNPT và các đơn vị thành viên đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và biện pháp thực hiện trong việc hoạch định kế hoạch phát triển chung cũng như các kế hoạch phát triển cụ thể. Từ đó đã tạo ra khí thế làm việc mới trong toàn thể đội ngũ CBCNV, quyết tâm cao, chủ động sáng tạo để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đây là điều kiện thuận lợi để VNPT cùng các đơn vị thành viên chuyển mình sang mô hình Tập đoàn kinh tế với cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động SXKD.

 * Đổi mới, tăng cường công tác quản lý

VNPT có phạm vi hoạt động rộng với nhiều đầu mối tổ chức và công việc, hoạt động SXKD gắn với thị trường luôn biến động phức tạp. Bởi vậy, đổi mới, tăng cường công tác quản lý là yếu tố quyết định đối với mọi hoạt động. Đây là yêu cầu cấp bách phải được thực hiện nhanh chóng, đồng bộ theo hướng ngày càng khoa học, chặt chẽ, hiệu quả.

Công tác quản lý phải đổi mới theo những định hướng sau: tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tham mưu giúp việc trong hoạch định, điều hành cơ chế, chính sách và các chương trình, dự án; xây dựng cơ chế quản lý cho từng khối theo hướng phân cấp mạnh và toàn diện cho từng đơn vị thành viên trên cơ sở gắn trách nhiệm với quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi; tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp thành viên nâng cao tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong đầu tư phát triển mạng lưới, SXKD, khắc phục tư tưởng bình quân trong phân phối thu nhập và cơ chế “bao cấp” trong đầu tư phát triển; kịp thời khen thưởng đối với các đơn vị dẫn đầu… Từ định hướng đó, VNPT tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định quản lý, khai thác, kinh doanh BCVT. Các quy chế quy định quan trọng được sớm đưa vào áp dụng trong thực tiễn. Song song với việc ban hành các quy chế mới, VNPT cũng tiến hành hủy bỏ hoặc bổ sung, điều chỉnh một số quy chế nội bộ không còn phù hợp tạo cơ sở để công tác quản lý của VNPT và từng đơn vị thành viên ngày càng đi vào nề nếp theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ, thống nhất.

Với tiêu chí “đổi mới quản lý trước cạnh tranh và hội nhập”, VNPT đã lựa chọn tiêu chuẩn ISO để xây dựng hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ. Việc mời tư vấn và tổ chức đánh giá chất lượng được tiến hành đồng bộ, trên cơ sở đó giúp Ban lãnh đạo kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện và sớm đưa vào triển khai dự án chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000…

Trong quá trình đổi mới, tin học hóa hoạt động quản lý có ý nghĩa quan trọng. Hầu hết các lĩnh vực quản lý đều tiến hành qua mạng VRS, AIS với phần mềm chuyên dụng. Điều này góp phần đưa công tác quản lý vào nề nếp, thống nhất, kịp thời và giảm được lao động trung gian cùng nhiều thủ tục mang tính hành chính. Việc kiện toàn công tác quản lý vận hành, khai thác mạng lưới được VNPT rất coi trọng. Nhiều thể lệ, quy trình, quy phạm  được sớm ban hành. VNPT luôn đề cao tính kỷ cương trong các hoạt động mạng lưới, tăng cường tính tự giác, nghiêm túc thực hiện của người lao động. Việc củng cố, duy tu thiết bị, mạng lưới được quan tâm, kênh luồng được sắp xếp lại hợp lý hơn với định hướng ngày càng khoa học hóa và chuẩn hóa. Công tác đo kiểm được đặc biệt quan tâm theo từng lĩnh vực để đưa ra đánh giá sát thực tế về thực trạng mạng lưới, chất lượng dịch vụ, phát hiện và khắc phục các sự cố… Thông qua việc triển khai các hợp đồng hỗ trợ kỹ thuật với các nhà cung cấp có năng lực và uy tín, công tác quản lý mạng lưới từng bước được nâng cao. Hoạt động điều hành mạng lưới sớm được thực hiện trực tuyến qua Web, tạo sự nhanh nhạy, thống nhất, chặt chẽ trong chỉ đạo và điều hành. Nhờ các biện pháp đồng bộ đó, an ninh mạng được tăng cường, tận dụng được tính năng và hiệu quả sử dụng của các thiết bị hiện có, tiết kiệm hàng chục tỷ đồng đầu tư xây dựng, phát triển các tuyến mới.

Việc phân định hoạt động công ích với hoạt động SXKD có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện để VNPT tăng cường công tác quản lý trong từng khối, từng hoạt động một cách phù hợp trên cơ sở đó xác định những sản phẩm, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh cao hay thấp; những sản phẩm, dịch vụ công ích cần được Nhà nước hỗ trợ. Đây là cơ sở để đưa ra chính sách đầu tư phát triển hợp lý, có chọn lọc, có điều kiện và thời hạn được ấn định cụ thể. Cơ cấu sản phẩm dịch vụ được xây dựng gắn kết, bổ trợ và có khả năng cạnh tranh theo hướng: dịch vụ BCVT, tin học là chủ đạo, sản phẩm công nghiệp BCVT là quan trọng, các dịch vụ tài chính và hoạt động nghiên cứu đào tạo là chỗ dựa.

Từ những đổi mới quan trọng trong công tác quản lý nên khả năng phối hợp trong toàn bộ máy bảo đảm nhịp nhàng và đạt hiệu quả cao hơn; tư duy, nếp nghĩ, cách làm của cán bộ quản lý và người lao động được đổi mới; tính năng động, tích cực, tự giác dần ăn sâu trong mọi cá nhân, đơn vị. Cũng nhờ thành công trong đổi mới cơ chế quản lý nên dù khối lượng, phạm vi quản lý tăng nhanh, các chức năng quản lý không ngừng mở rộng nhưng toàn bộ máy vẫn được vận hành thống nhất, thông suốt, hiệu quả.

 * Nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính 

Việc thực hiện đổi mới hoạt động quản lý tài chính cũng là nhiệm vụ rất quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của VNPT. Vì vậy, trong quá trình xây dựng định hướng cho công tác này, ban lãnh đạo VNPT luôn tham khảo và đánh giá cao những thông tin phân tích tài chính, ý kiến đóng góp từ các công ty thành viên, coi đây  là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính, đồng thời điều chỉnh kế hoạch SXKD cho phù hợp với nhu cầu thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Căn cứ theo Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/4/1999 của Chính phủ, bám sát đặc thù của Ngành và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhiều quy chế tài chính mới được ban hành, góp phần đồng bộ các văn bản quản lý tài chính, kế toán, thống kê của VNPT và các đơn vị thành viên. Đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính kế toán được tăng cường, không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phong cách làm việc, nâng cao ý thức trách nhiệm, làm tốt việc tham mưu cho lãnh đạo và hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị. Việc lành mạnh hóa các quan hệ tài chính tiếp tục được thực hiện hiệu quả, nhất là công tác đối chiếu và xử lý căn bản những tồn đọng trong thanh toán nội bộ giữa các đơn vị thành viên với Tổng công ty về nguồn vốn kinh doanh, xây dựng cơ bản, rà soát tình hình tăng giảm tài sản cố định… Nhờ vậy, công tác quản lý tài chính từng bước đi vào nề nếp, tình hình tài chính ổn định.

Những đổi mới trong công tác tài chính đã góp phần duy trì ổn định tình hình tài chính của VNPT. Nội lực của VNPT và các đơn vị thành viên ngày càng được nâng cao; năng lực tự chủ về tài chính của các bưu điện tỉnh/thành ngày càng tăng. Các quan hệ kinh tế, công tác quản lý tài chính, kế toán thống kê được tăng cường kỷ cương, minh bạch và lành mạnh hóa. Các khối SXKD của VNPT đều hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu nộp ngân sách, bảo đảm đúng hạn, đủ số lượng, kê khai thuế theo đúng quy định của pháp luật. Nguồn vốn phục vụ đầu tư và hoạt động SXKD được điều tiết linh hoạt và kịp thời, tạo thuận lợi cho việc chủ động thực hiện các chương trình, kế hoạch đã đề ra.

 * Tăng cường hoạt động thanh tra

VNPT phát huy vai trò của tổ chức thanh tra, kiểm tra các cấp, triển khai sâu rộng các quy định về hoạt động kiểm tra, thanh tra của Nhà nước và các quy định nội bộ; gắn hoạt động thanh tra kiểm tra với công tác phòng ngừa vi phạm, chống tham nhũng, buôn lậu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhiều quy chế, quy định được ban hành đã góp phần quan trọng đưa hoạt động này ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả. Hàng năm Ban Thanh tra VNPT phối hợp và phục vụ tốt hoạt động thanh tra của các tổ chức Thanh tra Nhà nước và cơ quan Công an, qua đó kịp thời chấn chỉnh công tác quản lý kinh tế, quản lý dịch vụ, thực hiện chế độ chính sách; đồng thời kiến nghị ban lãnh đạo xử lý kỷ luật những cán bộ, nhân viên mắc sai phạm, thu hồi hàng tỷ đồng. Những biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu khách hàng sớm được phát hiện và xử lý kịp thời, góp phần củng cố niềm tin và uy tín đối với khách hàng.

Song song với các hoạt động kiểm tra, thanh tra nội bộ trên các lĩnh vực hoạt động, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại của khách hàng cũng được chú trọng, kịp thời tiếp nhận và xử lý thỏa đáng các khiếu nại, góp phần làm tăng uy tín của VNPT. Các quy chế, quy trình tiếp dân sớm được ban hành góp phần định hướng chỉ đạo công tác tiếp dân, đưa công tác này ngày càng đi vào nề nếp, mang lại hiệu quả thiết thực.Đây là cơ sở thuận lợi để VNPT tiếp tục khẳng định thương hiệu và chỗ đứng của mình trên thị trường BCVT, CNTT trong nước, tạo tiền đề mở rộng hoạt động đầu tư kinh doanh ra nước ngoài.

II.                Đẩy mạnh công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, tiếp tục phát huy nhân tố con người đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển

 1.      Đổi mới công tác phát triển nguồn nhân lực

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Bưu điện Việt Nam nói chung, VNPT nói riêng đều coi trọng công tác xây dựng đội ngũ, phát triển nguồn nhân lực là vấn đề có tính chiến lược, đóng vai trò quan trọng bảo đảm sự lớn mạnh của Ngành. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, nguồn nhân lực vẫn tồn tại nhiều yếu kém: lực lượng lao động tuy đông về số lượng, nhưng về chất lượng còn hạn chế về năng lực, kiến thức và trình độ tiếp cận và làm chủ công nghệ, dịch vụ hiện đại, việc phân bổ cơ cấu trình độ lao động chưa đồng đều giữa các vùng miền. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp BCVT, CNTT có những lợi thế nhất định so với VNPT về thu nhập, về cơ chế hoạt động khiến cho tình trạng chảy máu chất xám diễn ra nhanh hơn, nhiều hơn ... Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu hết sức cấp bách đối với VNPT trong phát triển nguồn nhân lực.

Một trong những yếu tố quan trọng để phát triển nguồn nhân lực là bảo đảm cho người lao động có việc làm và thu nhập ổn định. Nhiều chính sách quản lý, sử dụng lao động và các chính sách khuyến khích nhằm phát huy tối đa năng lực của đội ngũ CBCNV được ban hành. Cùng với việc thực hiện nghiêm túc Luật lao động VNPT xây dựng và kiện toàn hệ thống tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật nghề Bưu điện, xây dựng tiêu chuẩn chức danh viên chức chuyên môn, nghiệp vụ thống nhất trong toàn VNPT chế độ làm việc 40 giờ/tuần, các bộ định mức lao động… cơ chế chính sách tiền lương sớm được hoàn thành, đặc biệt khối hạch toán phụ thuộc sớm góp phần bình ổn quỹ tiền lương, nâng cao thu nhập cho người lao động.

VNPT dần hình thành một cơ chế đãi ngộ thỏa đáng thông qua chính sách phân phối thu nhập để giữ chân lao động có trình độ. Cơ chế phân phối thu nhập được thực hiện hiệu quả dựa trên nguyên tắc làm theo năng lực hưởng theo lao động. Mức thu nhập được trả xứng đáng theo năng suất chất lượng, hiệu quả công việc…

Song song với các biện pháp đảm bảo việc làm và thu nhập, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển nguồn nhân lực là chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng. Nhiều quy định quy chế quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhân lực được đổi mới phù hợp. Các chương trình đào tạo trong các cơ sở đào tạo nghề của VNPT được đổi mới phù hợp với thực tiễn SXKD.  Bên cạnh đó, nhiều biện pháp tạo động lực cho người lao động phát huy khả năng sáng tạo được ban hành. Ban lãnh đạo VNPT nhấn mạnh phải gắn kết chặt chẽ việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đổi mới giáo dục đại học. Đổi mới cơ bản và toàn diện, đào tạo nhân lực theo hướng hội nhập, đạt trình độ khu vực và quốc tế, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển BCVT, CNTT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Không ngừng đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát huy nguồn nội lực song song với thu hút các nguồn đầu tư từ bên ngoài cho phát triển nguồn nhân lực.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực giai đoạn này được tổ chức hiệu quả với nhiều hình thức phong phú, VNPT quan tâm đào tạo và bồi dưỡng toàn diện cả kiến thức chuyên môn và kiến thức quản lý kinh tế, kỹ thuật nghiệp vụ với đào tạo phổ cập cho đội ngũ lao động mới tuyển dụng. Các chương trình lớn về nâng cao chất lượng đào tạo sớm được xây dựng, tạo thuận lợi để triển khai các kế hoạch phát triển ngắn hạn và dài hạn nhằm đáp ứng yêu cầu phổ cập IT, IP cho đội ngũ CBCNV. Ngoài việc đổi mới giáo trình đào tạo tại các cơ sở trực tiếp đào tạo theo xu hướng cập nhật, hiện đại, VNPT đã triển khai và xây dựng các dự án đào tạo quốc tế về CNTT với các trình độ khác nhau thông qua nhiều hình thức như: vốn ngân sách nhà nước cấp, nguồn kinh phí nội bộ, các hợp đồng hợp tác kinh doanh, các dự án, chương trình trao đổi cán bộ, chương trình hợp tác với ITU, UPU, APT… Ngoài ra VNPT còn mời các chuyên gia giỏi từ nước ngoài đến giảng dạy cho học viên, cán bộ kỹ thuật, tạo nhiều cơ hội để học viên tiếp cận với những kiến thức mới áp dụng vào thực tế.

Bên cạnh việc tăng cường kiến thức chuyên môn, các cơ sở đào tạo cũng rất chú trọng đến việc đào tạo nhân cách, đạo đức cho học sinh, coi đó là một trong những tiêu chí quan trọng nhằm xây dựng con người toàn diện theo chiến lược phát triển nguồn nhân lực của VNPT. Song song với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của các cơ sở đào tạo, công tác tuyển dụng được thực hiện bài bản theo quy chế rõ ràng, công khai, dân chủ, dựa trên nguyên tắc chỉ tuyển dụng lao động vào các chức danh thực sự cần thiết; tuyển đúng người, bố trí vào những vị trí phù hợp với sở trường, năng lực của người lao động và yêu cầu của SXKD. Ở nhiều đơn vị, nhất là bưu điện tỉnh/thành việc tuyển dụng kết hợp khá hợp lý giữa tiêu chuẩn, chất lượng với tuyển dụng và bố trí phù hợp con em trong Ngành, thể hiện rõ truyền thồng nghĩa tình, thực hiện chính sách với cán bộ trong Ngành. Đối với một số đơn vị đặc thù, việc tuyển dụng con em người địa phương, dân tộc thiểu số được chú trọng đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho họ phấn đấu, trưởng thành. Bên cạnh đó VNPT sớm triển khai  chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài; xây dựng môi trường làm việc hấp dẫn, tạo cơ chế và nhiều điều kiện thuận lợi để cán bộ trẻ thực hiện những ý tưởng sáng tạo và thể hiện năng lực đồng thời được thụ hưởng xứng đáng thành quả lao động của mình thông qua cơ chế thu nhập phù hợp. Nhờ vậy VNPT thu hút được khá nhiều trí thức trẻ có tài năng và nhiệt huyết, khai thác tốt nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực và đóng góp vào sự phát triển chung của Tập đoàn.

 2.      Tăng cường chăm lo đời sống người lao động

Xuất phát từ quan điểm coi con người là yếu tố quan trọng hàng đầu, Ban lãnh đạo luôn coi trọng chỉ đạo thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách, chăm sóc đời sống người lao động, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước, của Ngành. Hàng năm các đơn vị thuộc VNPT  tổ chức nhiều đợt nghỉ mát, du lịch trong và ngoài nước cho CBCNV theo đúng quy định. Cán bộ, công nhân mất sức, tai nạn lao động  luôn được thăm hỏi, tặng quà chu đáo cùng những ưu đãi phù hợp trong cuộc sống và công việc. Hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe người lao động luôn được quan tâm, đầu tư, phát triển. Hàng năm người lao động được khám bệnh định kỳ ít nhất một lần để kịp thời chăm sóc và sắp xếp công việc phù hợp. Chế độ bồi dưỡng cho CBCNV làm việc trong môi trường có yếu tốc độc hại, nguy hiểm bằng hiện vật được thực hiện tốt và thường xuyên theo đúng quy định của Nhà nước. Hệ thống cơ sở y tế gồm các bệnh viện, trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng cũng được tăng cường đầu tư, bảo đảm điều kiện ngày càng tốt trong việc chăm sóc sức khỏe cho CBCNV và nhân dân….

Công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng cháy chữa cháy luôn là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực nhằm bảo đảm môi trường tốt nhất cho người lao động hoàn thành nhiệm vụ. Mỗi năm VNPT đầu tư hàng trăm tỷ đồng để đổi mới công nghệ thiết bị, cải tạo và nâng cấp nhà trạm, trang bị đầy đủ thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, lắp đặt hệ thống thông gió điều hòa không khí, cải tạo cảnh quan nơi làm việc… nhằm tạo môi trường xanh - sạch - đẹp.

Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại