VNPT | TRANH THỦ THỜI CƠ, VƯỢT QUA THỬ THÁCH TIẾP TỤC ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI (1996-2000)
You are here >   Intro > Truyen_thong_lich_su > View
Register   |  Login
 
<
>
TRANH THỦ THỜI CƠ, VƯỢT QUA THỬ THÁCH TIẾP TỤC ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI (1996-2000)
Cập nhật ngày: 22/04/2011 Facebook Youtube Youtube

Đại hội VIII của Đảng đã chỉ ra phương hướng cơ bản cho Ngành giai đoạn 1996-2000 là “Phát triển mạng lưới BCVT hiện đại, đồng bộ, thống nhất, đều khắp và đa dịch vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng với chất lượng cao, giá thành hạ. Phát triển công nghiệp BCVT. Năm 2000 đạt mật độ điện thoại 6 máy/100 dân và hầu hết các xã ở nông thôn, vùng sâu vùng xa đều có máy điện thoại”. Từ phương hướng đó, Ngành đã đề ra kế hoạch tăng tốc độ phát triển giai đoạn II (1996-2000).

 

TRANH THỦ THỜI CƠ, VƯỢT QUA THỬ THÁCH TIẾP TỤC ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI HÓA, MỞ RỘNG CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BƯU ĐIỆN PHỤC VỤ CÔNG CUỘC CNH - HĐH ĐẤT NƯỚC (1996-2000)
Sau gần 10 năm phấn đấu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, CBCNV toàn Ngành đã kiên cường, mạnh dạn suy nghĩ tìm mọi cách đổi mới công nghệ trang thiết bị, đi thẳng vào công nghệ hiện đại nên đã giành được thắng lợi hết sức quan trọng trong lĩnh vực đẩy nhanh tốc độ và chất lượng thông tin. Mạng lưới BCVT đã được thay đổi căn bản từ mạng tương tự (Analog) sang mạng kỹ thuật số (Digital), cập nhật được kỹ thuật, công nghệ hiện đại của thế giới. Tuy vậy hoạt động dịch vụ BCVT vẫn còn nhiều hạn chế: mật độ điện thoại nói chung còn thấp, chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã. Mức độ dự phòng của mạng lưới chưa cao. Thái độ phục vụ tuy đã có nhiều tiến bộ song ở một số nơi giao dịch vẫn còn thái độ cửa quyền cần sửa chữa. Dây chuyền công nghệ tuy được đổi mới, công nghệ hiện đại nhưng quy mô và năng lực còn nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Nhiều cơ chế quản lý nói chung và quy trình vận hành khai thác chưa được xây dựng để đưa vào áp dụng, đáp ứng nhu cầu thực tế của mạng lưới đang phát triển hết sức nhanh chóng.
Thực hiện chủ trương của Đảng: “Tiếp tục phát triển và hiện đại hóa mạng thông tin liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoại đến hầu hết các xã” ngành Bưu điện khắc phục những tồn tại, vượt qua những khó khăn trước mắt để xây dựng kết cấu hạ tầng.
Đại hội VIII của Đảng đã chỉ ra phương hướng cơ bản cho Ngành giai đoạn 1996-2000 là “Phát triển mạng lưới BCVT hiện đại, đồng bộ, thống nhất, đều khắp và đa dịch vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng với chất lượng cao, giá thành hạ. Phát triển công nghiệp BCVT. Năm 2000 đạt mật độ điện thoại 6 máy/100 dân và hầu hết các xã ở nông thôn, vùng sâu vùng xa đều có máy điện thoại”. Từ phương hướng đó, Ngành đã đề ra kế hoạch tăng tốc độ phát triển giai đoạn II (1996-2000).
Ngành bước vào thực hiện kế hoạch tăng tốc giai đoạn II trong bối cảnh trong nước, quốc tế có nhiều thuận lợi và phức tạp. Trong nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, tiền đề cho CNH - HĐH được xây dựng cho phép đẩy mạnh công cuộc CNH – HĐH đất nước. Tình hình quốc tế mở ra nhiều thuận lợi. Mỹ bỏ cấm vận, Việt Nam tham gia nhiều tổ chức quốc tế như Asean, tham gia Hiệp ước Mậu dịch tự do (GATT-APTA), mở rộng quan hệ với EU… đời sống kinh tế văn hóa của Việt Nam từng bước hòa nhập với đời sống của cộng đồng quốc tế… Vấn đề quan hệ giữa quản lý Nhà nước và quản lý SXKD được xác định và tách bạch rõ ràng. Chức năng quản lý vốn và tài sản được bàn giao sang Bộ Tài chính. Tổng cục Bưu điện chỉ thực hiện vai trò quản lý Nhà nước về lĩnh vực hoạt động BCVT, điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng công ty BCVT Việt Nam tự chủ hoạt động SXKD.
I.                    Tiếp tục hiện đại hóa mạng lưới, mở rộng dịch vụ và phát triển công nghiệp, đảm bảo sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trong thế kỷ 20, trên thế giới có 10 thành tựu lớn về CNTT:
1.      Công nghệ chip điện tử ra đời và phát triển rất mạnh làm khả năng tính toán và xử lý dữ liệu tăng bội phần và giá thành ngày càng rẻ.
2.      Công nghệ phần mềm phát triển nhanh góp phần quan trọng trong việc đưa công nghệ tin học vào phục vụ cuộc sống.
3.      Kỹ thuật số hóa ngày càng phổ biến rất thuận tiện cho việc xử lý bằng máy tính và trao đổi qua các hệ thống viễn thông và Internet
4.      Công nghệ Internet/Web ra đời và phổ biến nhanh chóng
5.      Bùng nổ dịch vụ e-mail (thư điện tử) và nó trở thành một phương tiện thông tin đại chúng quan trọng số 1.
6.      CNTT tiến bộ vượt bậc trong 2 lĩnh vực công nghệ băng rộng và viễn thông di động vô tuyến bằng các hệ thống cáp quang sẽ tiến tới thay thế hệ thống cáp đồng.
7.      Công nghệ viễn thông di động vô tuyến trải qua thế hệ 1 (analog), thế hệ 2 (digital) và hiện nay đang tiến tới thế hệ 3 (3G) hiện đại có thể chuyển mạng giữa hệ thống hữu tuyến, vô tuyến, vệ tinh và IP để chuyển tải tín hiệu tiếng nói, dữ liệu và đa phương tiện trên khắp thế giới.
8.      Công nghệ WAP (Wireless Application Protocol) giúp máy điện thoại di dộng vô tuyến truy cập Internet được triển khai.
9.      Máy điện thoại di động vô tuyến trở thành công cụ liên lạc quan trọng của thế kỷ 21, là phương tiện hữu hiệu để thực hiện thương mại điện tử.
10. Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPSS: Global Positioning Satellite System) phát triển nhanh cung cấp những dịch vụ cần xác định vị trí không gian thời gian trên toàn thế giới.
Nắm bắt những thành tựu KHKT trên, đặc biệt là CNTT, lãnh đạo Ngành đã chủ trương tận dụng cơ hội, đẩy nhanh tốc độ phát triển mạng lưới BCVT theo hướng số hóa, tự động hóa, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ trên cơ sở mở rộng quan hệ quốc tế để thu hút vốn và công nghệ. Đó là hướng đi đúng đắn, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và là bước đột phá đối với lĩnh vực BCVT Việt Nam, tạo ra một giai đoạn phát triển mới cho Ngành.
1. Tiếp tục hiện đại hóa mạng lưới bưu chính - PHBC
Bưu chính là một trong những mắt xích trong nghiệp vụ bưu điện để phục vụ đến hạ tầng xã hội. Hiện đại hóa CNTT bưu chính - PHBC theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa với phương châm 3T: “Tốc độ - Tiêu chuẩn – Tin học” hòa nhập được với mạng thông tin bưu chính khu vực và quốc tế là hướng đi đúng đắn của Ngành. Ngành đã duy trì ổn định mạng lưới bưu chính-PHBC, tiến hành nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường đầu tư trang thiết bị, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy trình nghiệp vụ, ban hành quy trình khai thác bưu phẩm EMS, mở rộng quan hệ hợp tác song phương với UPU, ASEAN, đàm phán, thực hiện hiệp định mở chuyến thư đường bộ với Trung Quốc, triển khai nghiên cứu mở dịch vụ mới như bưu phẩm quảng cáo, Datapost, tiết kiệm bưu điện… Mạng lưới bưu cục được mở rộng, Điểm bưu điện văn hóa xã được tăng cường đầu tư xây dựng góp phần thực hiện đường lối của Đảng để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, giữ gìn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Mạng lưới bưu chính từng bước được hiện đại hóa, tự động hóa các khâu giao dịch và khai thác, kết hợp giữa vận chuyển chuyên ngành và phương tiện vận chuyển của xã hội. Các loại hình dịch vụ trong nước và quốc tế phát triển nhanh đã thỏa mãn nhu cầu bưu chính của xã hội.
Tháng 10/1996, Tổng công ty BCVT Việt Nam chính thức cung cấp dịch vụ thư điện tử, dịch vụ này ngày một phát triển trên mạng Internet. Ngoài các dịch vụ truyền thống, Ngành không ngừng mở thêm các dịch vụ mới như bưu phẩm không địa chỉ, bưu chính ủy thác và bắt đầu triển khai dịch vụ tiết kiệm bưu điện…
Về công tác PHBC: cuối năm 1999, để hợp lý hóa khâu vận chuyển, chia chọn báo chí, rút ngắn hành trình và thời gian đưa báo chí đến tay người đọc, Ngành đã tổ chức được 7 điểm truyền in báo từ xa, do đó 60/61 tỉnh thành, 90,8% số huyện, thị và 76,7% số xã có báo Nhân dân, Quân đội nhân dân đến trong ngày.
Từ năm 1997, Ngành đã phát hành trên 90% tổng số báo chí trong cả nước, sản lượng phát hành năm sau cao hơn năm trước chứng tỏ công tác PHBC được phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu trên toàn quốc.
2. Tiếp tục hiện đại hóa mạng viễn thông đáp ứng nhu cầu thông tin trong nước và quốc tế
23h ngày 29/2-2h30 ngày 01/3/1996, Tổng công ty BCVT Việt Nam đã hoàn thành đổi số điện thoại trên phạm vi toàn quốc từ 6 số lên 7 số (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh), từ 5 số lên 6 số (ở các thành phố, tỉnh lỵ khác) . Đây là một thành công có ý nghĩa quan trọng về phát triển mạng lưới viễn thông, về khả năng, trình độ quản lý kỹ thuật, khai thác, chỉ đạo điều hành mạng lưới của Bưu điện Việt Nam, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội trong thời kỳ mới.
Ngày 23/11/1996, khánh thành và đưa vào hoạt động xa lộ thông tin Bắc Nam, đây là hệ thống mạch vòng cáp quang SDH dung lượng 2,5Gbit/s có cự ly dài nhất khu vực.
Ngày 27/3/1996, Việt Nam tham gia tuyến cáp quang quốc tế trên đất liền qua 6 nước (CSC): Trung Quốc - Việt Nam – Lào – Thái Lan – Malayxia – Singapo dung lượng 2,5Gbit/s tương đương với 30.240 kênh thoại tiêu chuẩn.
Ngày 17/5/1996, lễ khánh thành tuyến liên lạc trực tiếp Việt Nam-Campuchia được tái lập với 16 kênh quốc tế qua hệ thống Intelsat. Tuyến này đã chấm dứt giai đoạn thuê thông tin ở một nước thứ 3 trong việc trao đổi thông tin giữa 2 nước.
Ngày 8/7/1996, Ngành khánh thành tổng đài cửa quốc tế AXE-105 Đà Nẵng, hoàn chỉnh thêm hệ thống tổng đài cửa quốc tế và cấu hình mạng viễn thông quốc tế, tạo điều kiện cho viễn thông Việt Nam phát triển.
Năm 1997 mạng lưới viễn thông tiếp tục được đại hóa và mở rộng trong cả nước, mạng viễn thông công cộng được phát triển nhanh, các phương thức thông tin truyền dẫn bằng cáp quang, viba và vệ tinh tiếp tục được phát triển… mạng viễn thông công cộng hiện còn 3 mạng chuyên ngành: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao và trên 500 mạng chuyên dùng trong đó có những mạng rất lớn: Điện lực, Đường sắt, Dầu khí, Hàng hải, Thủy sản… đang hoạt động trên phạm vi cả nước.
Hệ thông tin đặc biệt phục vụ các cơ quan Đảng và Chính phủ được nâng cao chất lượng. Trang thiết bị mới được triển khai tại các bưu điện tỉnh, thành phố xuống đến tận huyện để đảm bảo thông tin hệ 1 (đặc biệt) và phòng chống lụt bão tại những địa bàn trọng điểm. Hệ thống tổng đài đa dịch vụ (ISDN) và truyền dẫn cáp quang hiện đại của Cục BĐ TW được khánh thành và đưa vào sử dụng hỗ trợ đắc lực các mạng thông tin của các Bộ ngành.
Ngày 26/6/1996, VinaPhone (GPC) – mạng thông tin di động kỹ thuật GSM thứ 2 của Việt Nam chính thức đi vào hoạt động song song với mạng MobiFone (VMS) đã có trước đây.
Ngày 11/7/1998, Thủ tướng Chính phủ thông qua dự án tiền khả thi “Mạng thông tin di động cá nhân toàn cầu qua vệ tinh – GMPCS”. Ngày 01/10/1998, tại Đà Nẵng đã tổ chức kéo cáp cập bờ. Đây là mốc lịch sử quan trọng, đánh dấu mạng viễn thông Việt Nam chính thức được đấu nối trực tiếp vào hệ thống cáp quang biển quốc tế SE-ME-WE3.
Năm 1999, Ngành đã đưa vào thử nghiệm dịch vụ ISDN, thử nghiệm mạng dùng riêng truyền số liệu VSAT, thông tin di động qua vệ tinh IRIDIUM, bưu phẩm không địa chỉ, nghiệp vụ của đại lý chuyển phát nhanh, mở thêm bưu cục kiểm quan và bưu cục cửa khẩu cho các doanh nghiệp và tổ chức có đủ điều kiện thực hiện.
Từ 1996-1999, phát triển thêm một số dịch vụ mới: Tháng 10/1996 khai trương dịch vụ thư điện tử, tháng 10/1999, dịch vụ điện thoại di động trả trước chính thức đi vào hoạt động trong đó VinaPhone, Mobifone là 2 nhà khai thác chính.
Năm 1999, ngành Bưu điện tiếp tục xây dựng các đề án mới trong đó có các tuyến thông tin cáp quang liên quốc gia nhằm đảm bảo tốt nhu cầu thông tin phục vụ kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, phòng chống lụt bão, phục vụ chính quyền các cấp ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.
Ngành Bưu điện trình Chính phủ đề án “Chiến lược phát triển BCVT đến năm 2010 định hướng đến 2020 nằm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung cả nước. Trong đó đề án quan trọng nhất là đề án vệ tinh viễn thông VINASAT. Thực hiện quyết định số 868/1998/QĐ –TTg ngày 24/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án “Phóng vệ tinh viễn thông Việt Nam VINASAT”, Ngành đã tiến hành kiện toàn tổ chức, thành lập Ban chỉ đạo quốc gia VINASAT, xây dựng Quy chế hoạt động và làm báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, ký hợp đồng sản xuất vệ tinh dự án. Ban đề án đã tiến hành đăng ký và phối hợp vị trí quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh với 7 quốc gia khác.
Ngày 05/3/1997, Chính phủ ban hành Nghị định 21/CP về “Quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập sử dụng mạng Internet ở Việt Nam” và ra Quyết định thành lập Ban điều phối quốc gia mạng Internet. Đây là bản Nghị định quan trọng xác định trách nhiệm quản lý nhà nước, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet. Từ 19/11/1997, Việt Nam chính thức khai trương dịch vụ Internet đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình mở cửa thị trường trong nước và hội nhập với thế giới về thông tin. Với 4 dịch vụ cơ bản: thư điện tử, truyền file dữ liệu, truy nhập từ xa và truy nhập các cơ sở dữ liệu theo các phương thức khác nhau. Đến 1999 có 5 nhà cung cấp dịch vụ Internet:
1. Tổng công ty BCVT VN – mạng VNN
2. Công ty Cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn – mạng Saigonnet
3. Công ty NetNam (trước là Viện CNTT) – mạng Netnam
4. Công ty Phát triển đầu tư công nghệ - mạng FPT
5. Công ty Điện tử Viễn thông quân đội (Viettel)
Và 16 nhà cung cấp nội dung (ICP)
Sự ra đời của các công ty trên là kết quả của việc thực hiện chủ trương chống độc quyền doanh nghiệp của Đảng và Nhà nước, là bước chuẩn bị cho các doanh nghiệp trong nước bước vào thời kỳ hội nhập, cạnh tranh quốc tế.
Để tăng cường chất lượng và độ an toàn của hệ thống Internet trong nước, phù hợp với sự phát triển Internet quốc tế, Trung tâm Thông tin mạng Internet Việt Nam được Tổng cục Bưu điện thành lập ngày 28/4/2000 có nhiệm vụ quản lý, phân bổ, giám sát việc sử dụng nguồn tài nguyên về Internet, thông tin hướng dẫn về mạng và tham gia các hoạt động quốc tế về Internet. Ngày 20/3/2000, Công ty Phát triển phần mềm Bưu điện (VASC) được thành lập.
Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 58/CT-TW “Về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH”. Trong đó nêu rõ ngành Bưu điện có nhiệm vụ tổ chức thực hiện quá trình ứng dụng và đảm bảo phát triển CNTT… Đẩy mạnh đầu tư xây dựng mạng thông tin quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của toàn xã hội, đặc biệt sớm hình thành siêu xa lộ thông tin trong nước và liên kết với các nước trong khu vực và quốc tế.
Tần số VTĐ là nguồn tài nguyên của quốc gia, vì vậy công tác tần số VTĐ, phổ tần số và máy phát là một trong những công tác trọng tâm của ngành Bưu điện được Nhà nước quan tâm và giao cho Ngành quản lý, tham mưu cho Chính phủ. Cũng năm 1998, Chính phủ thành lập Ủy ban tần số VTĐ có nhiệm vụ thẩm tra các dự án, đồng thời kiến nghị các biện pháp quản lý, tạo ra sự phối hợp giữa các ngành như Bưu điện, Quốc phòng và Công an trong việc quản lý tần số và máy phát VTĐ. Công tác kiểm soát tần số được tăng cường với 8 Trung tâm kiểm soát ở các thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đaf Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng, Vinh, Nha Trang và Phú Thọ giúp Ngành quản lý càng tốt hơn. Các Trung tâm kiểm soát được đầu tư hàng triệu USD để xây dựng, mua sắm các thiết bị hiện đại nhất cho việc phát hiện những làn sóng lạ, xử lý can nhiễu và các vụ vi phạm tần số VTĐ. Ngành đã xây dựng các nguyên tắc quy hoạch, phân chia phổ tần cho các nghiệp vụ ở Việt Nam trong đó có cả băng tần dành cho An ninh, Quốc phòng….
II.                  Về kế hoạch – đầu tư phát triển
Quy hoạch phát triển BCVT giai đoạn 1996-2000 đã được Chính phủ phê duyệt năm 1997. Chính phủ xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và những biện pháp chủ yếu về phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ, công nghiệp, công nghệ, huy động vốn, phát triển nguồn nhân lực và quản lý tần số VTĐ. Để triển khai quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Ngành đã chỉ đạo xây dựng các quy hoạch phát triển ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Nam Trung bộ, khu vực Tây Nguyên và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc vùng đồng bằng sông Hồng.
a.      Về kế hoạch
Năm 1998, Ngành xây dựng và bảo vệ các loại kế hoạch, tổ chức hội nghị tập huấn để hướng dẫn việc chi ngân sách đầu tư phát triển và tổ chức kiểm kê tài sản cố định, hoàn thành dự án “Quy hoạch phát triển tổng thể BCVT vùng kinh tế trọng điểm duyên hải Nam Trung Bộ đến 2010” và nghiên cứu triển khai quy hoạch BCVT cho vùng Tây Nguyên, quy hoạch tổng thể viễn thông Việt Nam đến 2010 theo chương trình viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản. Ngành dự kiến giao cho các bưu điện tỉnh thành chủ trì công tác xây dựng chiến lược phát triển BCVT tại địa phương cho phù hợp với chiến lược của Chính phủ về phát triển Ngành trong toàn quốc và từng vùng trọng điểm của cả nước.
Giai đoạn 1996-2000, Tổng công ty BCVT Việt Nam là Tổng công ty 91, đang phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế mạnh, do nhiều nguyên nhân khách quan nên không thể thực hiện được chỉ tiêu quy hoạch là phát triển từ 5-6 máy điện thoại/100 dân, vì vậy Ngành đã trình Chính phủ xin phép điều chỉnh xuống mức 4 máy/100 dân. Trong từng thời điểm cụ thể Ngành đã xây dựng giá cước dịch vụ BCVT phù hợp, đây là biện pháp kích cầu hiệu quả dẫn tới dịch vụ viễn thông không ngừng tăng trưởng khiến tốc độ phát triển điện thoại nhanh vào bậc nhất thế giới, đến năm 2000 đã đạt chỉ tiêu mạng điện thoại công cộng 4 máy/100 dân.
b.      Về giá cước
Cước phí luôn được Chính phủ và xã hội quan tâm sâu sắc và cũng là đòn bẩy kinh tế khá quan trọng để phát triển Ngành. Những năm trước đây chính sách, cơ chế giá cả cước BCVT về cơ bản là đúng, phù hợp với chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước nhưng do sự phát triển nhanh về kinh tế - xã hội của đất nước, do mạng lưới dịch vụ BCVT phát triển nhanh, việc chuyển đổi giá cước còn chậm, khi Ngành đề nghị Chính phủ chủ điều chỉnh giá lại có sự phản ứng của xã hội. Về mặt nào đó gây khó khăn đến doanh thu của Ngành. Về cước quốc tế, Ngành đã nhiều lần giảm giá song vẫn còn cao hơn so với các nước trong khu vực và thế giới. Các loại giá cước viễn thông khác như cước thuê kênh thông tin, truyền số liệu chuyển mạch gói, dịch vụ Vnmail, giá lắp đặt điện thoại, giá các loại thiết bị, tổng đài…cũng được nghiên cứu để điều chỉnh cho phù hợp.
Về giá cước bưu chính vẫn còn bất hợp lý, Ngành đã nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp, phí PHBC luôn ở tình trạng lỗ triền miên chưa được khắc phục do Ngành chưa phân biệt rõ nghĩa vụ công ích và kinh doanh, chưa tính chi phí đầy đủ để trên cơ sở có mức giá cước PHBC hợp lý, Ngành cũng làm thủ tục với các cơ quan quản lý để thông qua cước dịch vụ Internet, ban hành cước dịch vụ Cardphone, cước thuê bao nội hạt, cước liên tỉnh, cước BPBK… Tuy nhiên do chưa xây dựng được chiến lược về giá cước nên công tác tiếp thị quảng cáo còn hạn chế, chắp vá, thiếu đồng bộ. Việc nghiên cứu thị trường tuy đã đạt được những kết quả bước đầu nhưng vẫn còn yếu và mang tính tự phát, hiệu quả chưa cao. Đối với cước viễn thông quốc tế, do các nước có khuynh hướng giảm cước vì vậy Ngành cũng phải tiếp tục điều chỉnh giảm.
Các dịch vụ BCVT đã trở thành dịch vụ phổ cập đại chúng, được cung cấp rộng rãi trên khắp các vùng miền trong toàn quốc đảm bảo thông tin tự động trong nước và quốc tế, đóng góp tích cực cho sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, giữ vững an ninh quốc phòng.
c.      Đầu tư phát triển
Để đạt được các mục tiêu phát triển, số vốn đầu tư cần thiết cho giai đoạn 1996-2000 rất lớn, Ngành đã chủ động khai thác các nguồn vốn trong nước và tranh thủ các nguồn vốn ODA, BCC, vay trực tiếp nước ngoài để đầu tư xây dựng, đảm bảo cơ cấu huy động vốn hợp lý.
Với tư cách là lĩnh vực chuyên ngành, ngành Bưu điện tham gia vào thẩm định, góp ý kiến cho các dự án của các ngành khác liên quan đến viễn thông, như dự án Trung tâm kỹ thuật truyền hình, truyền dẫn qua vệ tinh của Đài Truyền hình Việt Nam; Khai thác dịch vụ RDS trên sóng FM của Đài Tiếng nói Việt Nam, mạng viễn thông tin học của Bộ Công an; Tham gia vào diễn tập của Quân đội “BM ‘98” để hỗ trợ thông tin cho kế hoạch tập trận; Giải quyết yêu cầu thông tin VSAT cho Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Tổng cục Khí tượng thủy văn, Thông tấn xã Việt Nam; Cấp phép cho Ủy ban quốc gia về tìm kiếm cứu nạn trên không, trên biển và thử nghiệm GMPCS của Iridium; Bảo đảm thông tin cho Hội nghị thượng đỉnh ASEAN (VI)…
Quan tâm đúng mức đến công tác đầu tư xây dựng, đảm bảo đúng các quy định của Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản, Ngành đã tích cực đầu tư cho các dự án lớn để đáp ứng yêu cầu kinh doanh và phục vụ, góp phần tăng doanh thu của Ngành để thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, mở rộng diện phục vụ xuống các vùng nông thôn, biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa.
Sau gần 10 năm phấn đấu, thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, do được đầu tư trên mạng lưới công nghệ hiện đại nên đã giành được thắng lợi hết sức quan trọng về tốc độ và chất lượng thông tin. Mạng lưới BCVT Việt Nam thay đổi căn bản từ mạng lạc hậu (analog) sang mạng kỹ thuật số hiện đại (digital), cập nhật được kỹ thuật, công nghệ hiện đại của thế giới.
III.                Mở rộng, tăng cường quan hệ quốc tế song phương và đa phương
Tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường củng cố các mối quan hệ bạn hàng truyền thống với nhiều hình thức huy động mọi nguồn tiềm lực để phát triển, đồng thời củng cố, nâng cao uy tín của Việt Nam nói chung và Bưu điện Viện việt Nam nói riêng trên trường quốc tế. Đặc biệt chú trọng đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng: Lào, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan và các nước trong khối Asean… Tiếp tục củng cố các mối quan hệ bạn hàng truyền thống hiện có. Phát triển trên cơ sở có lựa chọn mối quan hệ với các đối tác có thiện chí hợp tác lâu dài. Mở rộng các mối quan hệ đa phương với các tổ chức quốc tế về khác BCVT như ITU, UPU, APT, APPU, Intelsat, Intersputnik…
Được phép của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty BCVT Việt Nam đã tham gia Hiệp hội thông tin di động GSM quốc tế (GSM-MOU), thực hiện nhiệm vụ là thành phần của các đoàn của Việt Nam đàm phán về dịch vụ BCVT trong Asean, Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và với WTO.
Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông giai đoạn 1999-2000 là để xây dựng một khung lộ trình cơ bản, trước hết là có cơ sở để Ngành tham gia vòng đàm phán kinh tế đa phương và song phương, đặc biệt là đàm phán  khi hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết. Nội dung chính của lộ trình này là cam kết mở cửa thị trường dịch vụ viễn thông 3 loại mới với mức độ quan trọng khác nhau về chủ quyền, an ninh và lợi ích kinh tế.
Trong năm 1999, hoạt động hợp tác quốc tế của Ngành nổi bật là tham gia, đóng góp tích cực tại Đại hội UPU lần 22 tại Bắc Kinh. Tại đại hội này ngành Bưu điện đã trúng cử vào Hội đồng chấp hành UPU. Uy tín của Ngành càng khẳng định rõ vị thế trên trường quốc tế với giá trị là thành viên của UPU và ITU.
1.      Công nghệ BCVT
Công nghệ BCVT được phát triển theo hướng hiện đại hóa cả chiều rộng và chiều sâu, tạo ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, mở rộng đầu tư sang cả lĩnh vực điện tử và tin học. Khuyến khích các hình thức huy động vốn (cổ phần hóa, kể cả liên doanh trong nước với xí nghiệp sản xuất công nghiệp BCVT). Làm chủ cả phần cứng và phần mềm đối với các tổng đài chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn dung lượng nhỏ, từng bước tiến tới làm chủ các tổng đài có dung lượng lớn, đẩy mạnh sản xuất thiết bị đầu cuối.
Đề án Lộ trình hội nhập quốc tế của ngành Bưu điện về viễn thông Việt Nam là một sự tiến bộ vượt bậc, rút ngắn đáng kể khoảng cách về cơ sở hạ tầng so với các nước tiên tiến. Đảng và Nhà nước đã khẳng định rõ chủ trương từng bước gia nhập các tổ chức thương mại thế giới và khu vực. Việt Nam là thành viên chính thức của Asean từ giữa năm 1995, thành viên Apec năm 1998, đang đàm phán để gia nhập WTO và trước mắt là đàm phán ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, đây cũng là cơ sở để Bưu điện Việt Nam chuẩn bị điều kiện xây dựng lộ trình hội nhập phù hợp.
2.      Phát triển khoa học công nghệ BCVT
Mục tiêu chính của công tác KHCN là phục vụ thiết thực hoạt động SXKD của Tổng công ty, trong những năm qua toàn Ngành dấy lên phong trào “Tuổi trẻ sáng tạo” trong KHKT và nghiệp vụ BCVT nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng mạng lưới. Ngành đã đầu tư 1.500 triệu đồng vốn ngân sách cho các đề tài cấp Nhà nước, trong đó đặc biệt chú trọng tới các đề tài nghiên cứu ứng dụng CNTT cho việc xây dựng mạng máy tính kết nối vào mạng tin học diện rộng của Chính phủ. Các đề tài tập trung định hướng vào áp dụng công nghệ mới, đề ra các giải pháp mới phát triển mạng lưới, đổi mới tổ chức, tin học hóa quản lý và điều hành SXKD, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng các giải pháp bảo đảm an toàn thiết bị mạng lưới, xây dựng các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, công tác nghiên cứu KHCN đã mang lại nhiều kết quả khả quan, 71/88 đề tài được nghiệm thu và đưa vào áp dụng.
Mặt khác, Ngành còn triển khai các đề tài đón đầu công nghệ kỹ thuật mới để phục vụ cho sự phát triển mạng lưới nhằm hiện đại hóa ngày một tốt hơn. Các đề tài phục vụ cho sự phát triển công nghiệp trong nước phải phù hợp với tình hình phát triển xã hội, do vậy phải nghiên cứu chế tạo tổng đài dung lượng nhỏ trên cơ sở làm chủ phần mềm, sử dụng phần cứng của nước ngoài đã mở ra hướng đi đúng và có hiệu quả trong thời gian qua và cho tương lai gần…Các hoạt động KHCN với sự đóng góp của các Viện Nghiên cứu nên các hoạt động quản lý, SXKD ngày càng được phát huy, trình độ và năng lực đội ngũ cán bộ được nâng lên rõ rệt. Tham gia thực hiện chương trình công nghiệp, Ngành đã chú trọng nâng cao năng lực công nghiệp Bưu điện trong nước, lập phương án, mở rộng đầu tư đối với các đề án công nghiệp. Nhờ vậy các sản phẩm công nghiệp Bưu điện đều đạt tiêu chuẩn Ngành và một số đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Với phương châm “Đi tắt - Đón đầu - Cập nhật”, ngành Bưu điện đã ban hành chiến lược về công nghiệp BCVT đồng thời chủ động báo cáo với Ban chỉ đạo CNTT quốc gia về chương trình CNTT giai đoạn 1996-1998. Ngành ban hành chỉ thị phòng ngừa sự cố Y2K, xây dựng chính sách khuyến khích phát triển đội ngũ chuyên gia tin học, xây dựng và bảo vệ với Bộ KHCN-Môi trường về Lộ trình KHCN viễn thông đến năm 2020…
IV.                Đổi mới tổ chức, tăng cường công tác quản lý kinh tế, kỹ thuật và nghiệp vụ, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, thực hiện tốt chính sách xã hội
1.      Đổi mới công tác quản lý
Ngành luôn chú trọng đến vai trò quản lý vì công tác quản lý có tốt, có đúng và hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế xã hội mới phát huy được vai trò là cơ quan giúp việc Chính phủ để phục vụ các cơ quan của Đảng và Nhà nước, phục vụ dân sinh, dân chủ trong cả nước và đối với quốc tế.
Lãnh đạo Ngành đã chỉ đạo các Vụ, Ban chuyên môn soạn thảo, phối hợp hội thảo với các bộ ngành có liên quan để trình lên Thủ tướng Chính phủ ký các văn bản thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được Chính phủ giao. Các văn bản quản lý nhà nước là cơ sở pháp lý để Ngành thực hiện quản lý, điều hành thuộc lĩnh vực BCVT. Chính phủ và các bộ ngành có liên quan đã cùng Ngành xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức được tốt hơn.
Văn bản ở lĩnh vực Thông tư liên tịch được phối hợp ban hành kịp thời để phục vụ cho công tác quản lý và điều phối SXKD trong lĩnh vực BCVT như các thông tư về quản lý giá lắp đặt điện thoại, fax; thông tư về cấp phép kết nối, cung cấp, kết nối và sử dụng dịch vụ Internet; thông tư hướng dẫn kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hàng hóa kinh doanh qua đường bưu điện; thông tư về quản lý các đài PTTH, sử dụng tần số VTĐ và một số thông tư hướng dẫn quy chế đấu thầu và quản lý xây dựng cơ bản… Việc tổ chức quản lý, ban hành các văn bản quản lý phù hợp với đường lối chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam làm cơ sở tạo thành hành lang pháp lý, với xu thế phát triển của thế giới là những cơ hội thách thức đối với Bưu điện Việt Nam.
Với một hệ thống thông tin hiện đại (tổng đài điện tử, hệ thống truyền dẫn số hóa, cáp quang, vệ tinh…) được bổ sung lẫn nhau hình thành hệ thống mạng lưới thông tin quốc gia, được hòa nhập với mạng lưới thông tin khu vực và thế giới, Việt Nam cần có một vệ tinh viễn thông riêng để sử dụng cho nhiều ngành kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng là tất yếu hợp lý. Sau một năm nghiên cứu chuẩn bị, Ngành đã xây dựng xong đề án phóng vệ tinh viễn thông trình lên Chính phủ phê duyệt. Ngày 24/9/1998, Thủ tướng Chíh phủ đã ký quyết định số 868/Q Đ/TTg về dự án tiền khả thi “Phóng vệ tinh viễn thông Vinasat”, đây là cơ sở thực hiện dự án để góp phần hoàn thiện vào mạng lưới viễn thông công cộng Việt Nam trong thời kỳ đầu thế kỷ 21 được kết hợp với các mục tiêu phục vụ dân sinh, dân chủ, an ninh, quốc phòng, đang đòi hỏi ở thời kỳ hiện tại và tương lai trong công cuộc đổi mới đất nước.
Muốn đổi mới công tác quản lý thì phải đổi mới công tác tổ chức cho hợp lý. Ngày 10/8/1999, thủ tướng đã ký quyết định số 165/1999/Q Đ/TTg thành lập Trung tâm quản lý chất lượng Bưu điện. Ngày 28/4/2000, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện đã ký quyết định thành lập Trung tâm Thông tin mạng Internet Việt nam (VNNIC).
2.      Đổi mới công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, lao động tiền lương và quản lý
Theo Nghị định 12/CP ngày 11/3/1996 về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy Tổng cục Bưu điện đã sắp xếp lại bộ máy của Tổng cục. Tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8 năm 1996 của Đảng, đ/c Đỗ Trung Tá, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty BCVT Việt Nam được bầu vào Ban chấp hành TW Đảng CSVN.
Để quản lý công tác Bưu điện tại địa phương, Chính phủ cho phép thành lập 2 Cục Bưu điện ở 2 miền (Nam và Trung) có chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về BCVT ở địa phương, chấm dứt việc ủy quyền cho giám đốc các Bưu điện tỉnh thành trực thuộc TW thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về Bưu điện tại địa phương. Đồng thời thống nhất quản lý nhà nước về một đầu mối. Vì vậy, các Bưu điện tỉnh thành được bàn giao cho các Cục Bưu điện khu vực quản lý. Sau một thời gian đã thu được một số kết quả, nhất là việc cấp phép mở rộng mạng viễn thông chuyên dùng, xuất nhập khẩu thiết bị, kiểm tra việc sử dụng thiết bị máy phát và tần số VTĐ, xử lý vi phạm pháp luật và quy định của Ngành trong lĩnh vực BCVT.
Để hoàn thiện tổ chức bộ máy của Tổng công ty BCVT Việt Nam, Tổng cục quyết định thành lập lại 75 doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty, trong đó 16 doanh nghiệp hạch toán độc lập, 59 doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc và đề nghị xếp hạng I cho 13 doanh nghiệp thành viên Tổng công ty BCVT.
Trong một thời gian ngắn Ngành đã kiện toàn tổ chức, bổ nhiệm cán bộ quản lý và điều hành. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành, tiếng Anh, tin học cho CBCNV để nâng cao trình độ, đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn phát triển. Công tác lao động tiền lương cũng được tổ chức nghiên cứu phù hợp với chính sách cải cách tiền lương của Nhà nước đối với CBCNV, cán bộ hưu trí, những người có công với cách mạng, cán bộ lão thành cách mạng…
Năm 1997, về hoạt động của các doanh nghiệp trước hết phải kể đến Tổng công ty BCVT Việt Nam giữ vai trò chủ chốt trong tất cả các hoạt động về lĩnh vực BCVT mà đáng chú ý là lĩnh vực cung cấp dịch vụ và sản xuất công nghiệp.
Các công ty Cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn (SPT), Công ty Điện tử viễn thông Quân đội (Viettel) được chính thức thành lập và hoạt động trên các lĩnh vực cung cấp dịch vụ, xây lắp công trình, sản xuất thiết bị và kinh doanh, xuất nhập khẩu thiết bị BCVT. Đồng thời Tổng cục Bưu điện đã cấp giấy phép cung cấp một số dịch vụ BCVT cho 2 công ty này. Công ty Phát triển đầu tư công nghệ (FPT) cũng được cấp phép cung cấp dịch vụ Internet. Các công ty cổ phần ngoài ngành Bưu điện tham gia vào lĩnh vực BCVT là bước mở màn cho sự phát triển đa dạng hóa trong thời kỳ đổi mới.
Ngày 11/11/1997, theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, Nhà máy Cáp và Vệt liệu viễn thông (SACOM) được cổ phần hóa. Đây là doanh nghiệp đầu tiên của ngành Bưu điện được cổ phần hóa.
Bổ sung nhân lực, hoàn thiện từng bước bộ máy Tổng cục, Ngành tiếp tục hoàn thiện mô hình tổng công ty 91/TTg, tích cực triển khai công tác đổi mới doanh nghiệp. Do các tỉnh chia tách theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, các Bưu điện tỉnh cũng phải thay đổi, chia tách theo địa giới các tỉnh. Ngày 23/7/1997, Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập Nhà xuất bản Bưu điện, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành Bưu điện. Việc ra đời Nhà xuất bản rút ngắn quá trình xuất bản các xuất bản phẩm, tạo điều kiện phát triển số lượng, nâng cao chất lượng xuất bản phẩm phục vụ công tác đào tạo, phổ biến kiến thức. Đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng nguồn nhân lực cho Ngành trong giai đoạn mới.
Ngày 11/7/1997, Thủ tướng cho phép thành lập Học viện Công nghệ BCVT trực thuộc Tổng công ty BCVT Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại Viện KHKT Bưu điện, viện Kinh tế Bưu điện và Trung tâm đào tạo BCVT có chức năng đào tạo cán bộ KHCN đại học và trên đại học; Nghiên cứu KHCN và chuyển giao công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển Ngành; Quản lý thống nhất về chương trình đào tạo-nghiên cứu, đội ngũ giáo viên, cán bộ nghiên cứu và trang thiết bị của các khoa, cơ sở nghiên cứu trong Học viện.
Để tiếp tục hoàn thiện tổ chức theo hướng chuyên sâu, Tổng công ty quyết định thành lập mới một số Ban: Ban Kiểm toán nội bộ, các Ban quản lý dự án, Công ty Tài chính Bưu điện. Bên cạnh đó xây dựng mô hình tập đoàn trình chính phủ và ban hành tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quy hoạch cán bộ.
Đồng thời, Ngành đã tập trung xây dựng đề án đổi mới tổ chức quản lý, đề án chuyển đổi cơ cấu sản xuất và đầu tư trong Ngành trong quá trình hội nhập quốc tế cũng như tăng cường công tác quy hoạch cán bộ quản lý giai đoạn 2000 - 2005.
3.      Công tác thanh tra, bảo vệ mạng lưới
Luôn chú trọng đến công tác thanh tra, kiểm tra, Ngành đã phối hợp với Ban Vật giá chính phủ, Thanh tra Nhà nước tiến hành kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các vi phạm ở các đơn vị, cơ sở kinh doanh BCVT… Ngành cũng tổ chức thực hiện các Nghị quyết và Chỉ thị của Trung ương về đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu qua đường bưu điện, kịp thời đề ra kế hoạch và biện pháp phù hợp để phòng chống ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực, tham ô, ăn cắp công quỹ, tham nhũng trong khâu quản lý, sản xuất, gây phiền hà đối với người sử dụng Bưu điện.
4.      Công tác thi đua tuyên truyền
Từ năm 1977, ngành Bưu điện chuyển công tác thi đua khen thưởng từ Công đoàn Bưu điện Việt Nam về Tổng cục Bưu điện và Tổng công ty BCVT Việt Nam cho phù hợp với quy định chung, thành lập mới Hội đồng thi đua khen thưởng của Ngành.
Năm 1997, Công đoàn Ngành được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng nhất và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tặng bức trướng thêu 10 chữ vàng “Trung thành – Dũng cảm – Tận tụy – Sáng tạo – Nghĩa tình”.
Công tác thi đua khen thưởng là động lực của các phong trào thi đua và trở thành hoạt động thường xuyên, thúc đẩy công tác chuyên môn hoàn thành nhiệm vụ cao. Nhìn chung 10 năm qua (1991-2000), hoạt động của Ngành đã đạt nhiều thành tích, cơ sở hạ tầng thông tin phát triển nhanh và vững chắc, Ngành được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động Nhất, Nhì, Ba…
Về tổng quan, cơ sở hạ tầng thông tin của ngành Bưu điện Việt Nam đến năm 1998 đã đạt được những thành quả lớn với tốc độ tăng trưởng nhanh và được đánh giá là một trong những ngành có tỷ trọng đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước trong thời kỳ đổi mới.
Thông tin bưu điện là Ngành vô cùng quan trọng của nền kinh tế quốc dân, không một ngành nào, không một lĩnh vực nào kể cả an ninh quốc phòng không liên quan đến bưu điện. Kết quả đạt được của các ngành đều có sự đóng góp của ngành Bưu điện. Một xã hội càng văn minh hiện đại, kinh tế càng phát triển thì hàm lượng thông tin liên lạc kết tinh trong sản phẩm của xã hội càng lớn, hiệu quả đem lại càng cao. Nhận thức rõ vai trò và vị trí như vậy, cho nên trải qua các giai đoạn cách mạng thông tin Bưu điện đã có quá khứ đầy vẻ vang và đã mang lại cho hiện tại một sức vươn lên mạnh mẽ, một niềm tin vững chắc để tiến về phía trước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chỉ tiêu trong các kế hoạch, quy hoạch dài hạn, phát triển để phục vụ, để cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả, đúng đắn và có phát triển với tốc độ cao công nghệ hiện đại thì mới hội nhập thắng lợi, toàn cầu hóa thành công.
Ngành Bưu điện được xây dựng và phát triển qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau, sự giác ngộ hiểu biết, trình độ học vấn tri thức, vốn sống và bản lĩnh, sự từng trải và tâm huyết tạo nên một bề dày thành tích lịch sử và những bước đi vững chắc luôn hướng về phía trước, đưa Ngành thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần vào sự nghiệp CNH – HĐH phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân ngày càng cao hơn, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Chính phủ, nhân dân và bao lớp người đi trước còn sống hoặc đã ra đi.

 

Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại