1. Viễn thông Việt Nam về đích trước 2 năm : Mạng điện thoại trên toàn quốc của VNPT vượt 7 triệu máy, đưa mật độ điện thoại trung bình của Việt nam lên 9,02 máy/100 dân. Đây là chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đề ra cho ngành Viễn thông Việt Nam vào năm 2005. Trong năm đã phát triển mới được hơn 1.700.000 máy điện thoại - số lượng phát triển mới máy điện thoại lớn nhất từ trước đến nay. Đã phát triển mới được 195.000 thuê bao Internet gián tiếp, nâng tổng số thuê bao Internet gián tiếp hiện có lên 439.763 thuê bao. Đến nay đã có 93% số xã trong cả nước đã có máy điện thoại.
2. Năm 2003 tiếp tục được VNPT chọn là "Năm khách hàng"; Cùng với việc tiếp tục triển khai nhiều giải pháp chăm sóc khách hàng tích cực, Tổng công ty đã tổ chức "Hội thảo kinh doanh BC-VT trong môi trường cạnh tranh" đồng thời xuất bản Tạp chí Xã hội Thông tin để giải đáp, tư vấn các dịch vụ cho khách hàng. Nhiều dịch vụ mới, đa dạng đã được đưa vào khai thác như : trả lương qua tài khoản tiết kiệm cá nhân, dịch vụ điện thoại giá rẻ trả trước 1717, điện thoại vô tuyến nội thị Cityphone, ADSL, 19001570, 19001575, MMS, MegaVNN, điện thoại Internet, WIFI@Vnn...; Những cố gắng, nỗ lực trên của Tổng Công ty đã góp phần nâng cao được năng lực cạnh tranh, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng và nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
3. Thực hiện Quyết định của Bộ Bưu chính, Viễn thông, VNPT đã đồng loạt tiến hành giảm giá cước nhiều dịch vụ viễn thông và Internet : cước điện thoại quốc tế IDD giảm trung bình 33%, Gọi 171 quốc tế giảm 37%, thuê bao điện thoại di động giảm 20%, thuê kênh liên tỉnh và quốc tế giảm từ 10-40% vv... Đặc biệt đợt giảm giá cước từ ngày 01/04/2003 là đợt giảm giá cước lớn nhất từ trước đến nay và là bước đột phá trong lộ trình giảm cước viễn thông và hội nhập kinh tế quốc tế của Viễn thông Việt Nam.
4. Sau 5 năm đi vào hoạt động, mô hình Điểm Bưu điện-Văn hoá xã đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào việc đưa NQTW 5 khoá VIII của Đảng vào cuộc sống. Cùng với hệ thống Điện, Đường, Trường, Trạm, Điểm BĐVHX đã trở thành một thực thể không thể thiếu trong kết cấu hạ tầng cơ sở nông thôn, góp phần vào công cuộc Công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt nam. Tính đến nay đã có hơn 7000 Điểm BĐ-VH Xã đi vào hoạt động. VNPT phấn đấu đến hết năm 2005, 100% số xã trên cả nước sẽ có Điểm BĐ-VH Xã.
5. Với việc đầu tư hơn 400 tỷ đồng cho mạng lưới và tài trợ bằng sản phẩm, dịch vụ trị giá gần 11 tỷ đồng cho SEA Games 22, VNPT đã trở thành Nhà tài trợ lớn nhất, Nhà cung cấp chính thức các dịch vụ BC-VT và CNTT; Đối tác chính thức của SEA Games 22. Đóng góp tích cực vào thành công của ngày hội thể thao lớn nhất trong khu vực, VNPT đã bảo đảm phục vụ cho thông tin và truyền thông của SEA Games 22 với chất lượng quốc tế cao nhất, được Đảng, Nhà nước ghi nhận, được xã hội và bạn bè quốc tế đánh giá cao.
6. Không ngừng mở rộng năng lực hạ tầng cơ sở mạng lưới bưu chính-viễn thông quốc gia, đáp ứng các nhu cầu của xã hội và phục vụ an ninh quốc phòng; Tích cực hợp tác và triển khai tốt các thoả thuận kết nối với các doanh nghiệp khác, cùng khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin chung của đất nước; Năm 2003 là năm đã thực hiện đầu tư lớn nhất vào mạng lưới trong những năm qua với tổng số vốn đầu tư gần 7.500 tỷ đồng; cơ bản hoàn thành kế hoạch xây dựng các công trình, hạng mục của mạng lưới đến 2005; Tích cực đầu tư xây dựng và tổ chức mạng lưới thế hệ tiếp theo (NGN).
7. Thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT cũng như thoả thuận giữa hai Bộ Bưu chính Viễn thông và Bộ Giáo dục Đào tạo, VNPT đã tích cực triển khai việc đưa Internet xuống các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề, phổ thông trung học trong cả nước. Đến hết năm 2003, toàn bộ các Bưu điện Tỉnh, Thành phố đã hoàn thành chương trình đưa Internet xuống trường học.
8. Công nghiệp Bưu chính, Viễn thông, CNTT và các lĩnh vực tài chính, thương mại phát triển nhanh, vững chắc. VNPT đã ký hợp đồng xuất khẩu phần mềm quản lý viễn thông (NMS) trị giá 1 triệu USD cho Tập đoàn Alcatel (Pháp). Đây là lần đầu tiên một phần mềm hoàn toàn do các kỹ sư Việt nam (Trung tâm Công nghệ Thông tin CDiT) lập trình được xuất khẩu. Các sản phẩm, hệ thống, dịch vụ của 5 đơn vị thuộc VNPT (Công ty VDC, VPSC, VASC, CDiT và SACOM) đoạt giải thưởng Sao Vàng đất Việt. Trung tâm CDiT được trao tặng giải Sao Khuê. VNPT và Tập đoàn Telstra (Ôs-trây-li-a) đã ký thoả thuận chấm dứt và bàn giao tài sản cố định của Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)-hợp đồng BCC đầu tiên của Viễn thông Việt nam và đối tác nước ngoài trong thời kỳ đổi mới.
9. Sôi động các sự kiện quốc tế về CNTT và truyền thông. Năm 2003, VNPT đã tổ chức và tham gia tổ chức nhiều sự kiện CNTT và truyền thông lớn : Diễn đàn CNTT và truyền thông (ICT Vietnam?03), COMNET Vietnam?03, Triển lãm Computer World Expo?03, Hội nghị thượng đỉnh ASOCIO, Tuần lễ Tin học (IT Week). Qua việc tổ chức và tham gia các sự kiện lớn này, uy tín và thương hiệu của VNPT đã đã không ngừng được củng cố và nâng cao trong xã hội và quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp phát triển, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật trong lĩnh vực BC-VT và CNTT.
10. Đại hội XII Công đoàn Bưu điện Việt nam, Đại hội Kế thừa-ổn định-Dân chủ-Đổi mới-Phát triển đã thành công tốt đẹp. Đại hội đã đề ra mục tiêu cơ bản trong giai đoạn tới là : Thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội của Ngành; chủ động phát triển nhanh và bền vững giành thắng lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế; đảm bảo công bằng, dân chủ, việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống của CBCNV; Xây dựng đội ngũ CNVC lao động lớn mạnh, tổ chức Công đoàn Bưu điện Việt nam lớn mạnh.